This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Năm, 12 tháng 1, 2017

Tìm hiêu nguyên lí hoạt động của bơm bê tong?

Tìm hiêu nguyên lí hoạt động của bơm bê tong?

Máy bơm bê tông là thiết bị dùng để vận chuyển và trút đổ bê tông có tính linh động cao và có thể vận chuyển bê tông lên cao đến 70 mét và bơm xâ tới 500m bằng một đường ống chất liệu thép. Nếu muốn bơm cao và xe hơn thì phải có thêm các đường ống lắp nối tiếp. Thiết bị còn được tận dụng để bơm vữa trong xây dựng.
Cấu tạo và nguyên lý hoạt động của máy bơm bê tông

Cấu tạo chung của một máy bơm bê tông gồm có các bộ phận sau:
bơm bê tông


Thân bơm –  Động cơ – Phễu cấp liệu – Thiết bị dẫnn vật liệu – Guồng trộn – Cơ cấu liên động – Van hút – Van đẩy – Thanh kéo.

Cơ chế hoạt động của máy bơm bê tông là theo kiểu dẫn động cơ khí. Thiết bị chuyển động là nhờ hai động cơ: một động cơ dùng để kéo đẩy pittong và một động cơ dùng để quay cơ cấu trộn.

Đường dẫn bê tông là những ống thép được nối với nhau, kín, và đảm bảo tháo lắp dễ dàng.

Lưu ý khi bắc ống dãn vật liệu cần bắc theo một đường thẳng và đặt ở vị trí bằng phẳng vì nếu như đặt theo đường cong hoặc dẫn lên quá cao thì máy bơm sẽ làm tổn thất khá nhiều năng lượng.


Sau khi sử dụng xong máy bơm bê tông nên vệ sinh sạch sẽ và tức thời. Nếu không xi măng sẽ khô lại rất khó làm sạch và gây ảnh hưởng đến thiết bị. Thông thường hay dùng cách đổ nước vào máy bơm và cho nó chạy để rửa sạch xylanh và đường ống dẫn.

Thế nào là hàn Tig?

Thế nào là hàn Tig?

Hàn TIG ( Tungsten Inert gas) còn có tên gọi khác là hàn hồ quang bằng điện cực không nóng chảy (tungsten) trong môi trường khí
bảo vệ - GTAW  ( Gas Tungsten Arc Welding ) thường được gọi với tên hàn Argon hoặc WIG ( Wonfram Inert Gas)
Sử dụng các loại khí bảo vệ như: Argon, Heli, Argon+Heli, Argon +Hidro hoặc Argon+oxy.
Đặc điểm
Điện cực không nóng chảy.
Không tạo xỉ do không có thuốc hàn.
Hồ quang, vũng chảy quan sát và kiểm soát dễ dàng
Nguồn điện tập trung có nhiệt độ cao
hàn tích

Có thể hàn được kim loại mỏng hoặc dày do thông số hàn có phạm vi điều chỉnh rộng ( từ vài ampe đến vài trăm ampe).
Hàn được hầu hết các kim loại và hợp kim với chất lượng cao. Mối hàn sạch đẹp, không lẫn xỉ và văng tóe. Kiểm soát được
độ ngấu và hình dạng vũng hàn dễ dàng
Ứng dụng của phương pháp hàn TIG:
Phương pháp hàn TIG được áp dụng trong nhiều lĩnh vực sản xuất, đặc biệt rất thích hợp trong hàn thép hợp kim cao,
kim loại màu và hợp kim của chúng…
Phương pháp hàn này thông thường được thao tác bằng tay và có thể tự động hóa hai khâu di chuyển hồ quang cũng
như cấp dây hàn phụ.
Thường được sử dụng trong lĩnh vực hàng không vũ trụ,trong sản xuất xe không gian…
Sử dụng hàn các tấm mỏng,ống thành mỏng trong ngành công nghiệp xe đạp.
Thường được sử dụng trong quá trình phục chế sửa chữa các chi tiết bị hỏng,đặc biệt là các chi tiết làm bằng nhôm và magie .
Hàn TIG đặc biệt áp dụng trong chi tiết hàn khó,yêu cầu mối hàn cao như là các góc nhỏ khó hàn trong các chi tiết máy,vỏ máy photo,máy lạnh,máy điều hòa,các loại máy trong bệnh viện như máy X-Quang,máy chiếu..Ứng dụng nhiều trong công nghệ hàn tàu,hàn ống tàu,hàn ống dẫn ga,dẫn dầu....
Ưu điểm của hàn TIG
Có thể hàn được kim loại mỏng hoặc dày do thông số hàn có phạm vi điều chỉnh rộng (từ vài Ampe đến vài trăm ampe).
Hàn được các kim loại và hợp kim có chất lượng cao.
Mối hàn sạch đẹp, không lẫn xỉ và văng tóe.
Kiểm soát được độ ngấu và hình dạng vũng hàn dễ dàng.
Có thể sử dụng hoặc không sử dụng que đắp để tạo nên mối hàn.
Nhược điểm của hàn TIG
Năng suất thấp
Đòi hỏi thợ hàn có tay nghề cao hơn
Giá thành tương đối cao do năng suất thấp, thiết bị và nguyên liệu lại đắt tiền.
Các loại vật liệu Dùng Hàn TIG
Hợp kim thép : thép không rỉ (inoc),Hợp kim các bon thấp (thép thường hoặc thép đen)

Hợp kim Nhôm ,Hợp kim đồng ,Magie,Gang hợp kim,Niken,Hợp kim kẽm,Hợp kim  Zicron....

Nghành kỹ thuật cơ khí là gì

Nghành kỹ thuật cơ khí là gì

Ngành Kỹ thuật cơ khí học là ngành tham gia trực tiếp chế tạo, sản xuất các thiết bị sản phẩm cơ khí. Với nhiều người, công việc của ngành cơ khí luôn liên quan đến sắt thép, liên quan đến các công việc gia công bằng tay như tiện, phay, hàn, bào.... Tuy nhiên, hiện nay với sự phát triển của công nghệ, công việc ngành cơ khí được chuyên môn hóa, nhiều công việc cơ khí mà người làm việc gần như không tham gia vào tiện, phay, bào, hàn.
cơ khí


Cơ khí là ngành phổ biến rộng khắp trong xã hội
Trước đây để gia công một sản phẩm, người thợ phải lấy nguyên liệu, gia công bằng tay trên các máy móc nửa thủ công như máy tiện, máy phay, máy bào, máy hàn... Hiện nay công việc gia công đã được tự động hóa bằng các máy gia công hiện đại (máy CNC), công việc của người thợ chỉ còn là đứng máy nhấn nút, lập trình gia công... Lập trình gia công là một công việc quan trọng khi thực hiện trên các máy gia công tự động CNC, các công việc trước đây như lấy vật liệu (phôi), tiện, phay đều được máy tự động thực hiện một cách chính xác theo chương trình đã được lập trình.

Công việc thiết kế trước đây phải thực hiện bằng việc vẽ các bản vẽ bằng tay, ngày nay đã có sự hỗ trợ của máy tính với các chương trình chuyên hỗ trợ cho việc thiết kế cơ khí. Việc thiết kế cơ khí trên máy vi tính với sự hỗ trợ của phần mềm được gọi là CAD, CAD cho phép xây dựng được những bản vẽ có độ phức tạp cao. Người kỹ sư cơ khí hiện nay luôn phải biết về CAD.

Một bước tiến cao hơn trong ngành cơ khí là công nghệ CAD/CAM/CNC, tạo thành một quy trình khép kín từ khâu thiết kế đến khâu chế tạo sản phẩm bằng các máy móc gia công hiện đại.


Với những công nghệ như trên, ngành cơ khí ngày càng đóng góp tích cực để sản xuất ra các thiết bị, máy móc, sản phẩm cơ khí có độ chính xác cực cao, độ bền tốt.

Khái niệm và quy trình làm việc của xe lu bánh thép

Khái niệm và quy trình làm việc của xe lu bánh thép :

Việc tác động vào bề mặt đất nhằm nén chặt, phân phối đều làm bề mặt các lớp đất đá phẳng mịn ở các công trình thi công đường, sân, sânbay, đê điều,.. Thực hiện được những việc đó một cách hiệu quả chúng ta đã xử dụng một loại thiết bị thi công chuyên dụng đó là xe lu hay còn được gọi là máy lu, xe hủ lô.

Xe lu phục vụ các công trình xây dựng công nghiệp, giao thông, thủy lợi, nông nghiệp và các công trình cơ sở hạ tầng khác có nhu cầu đầm nén. Xe lu thường có khối lượng lớn với một hoặc hai ống trụ, có lực nén lớn . Một số máy có ống trụ rung để tác động rải vật liệu hiệu quả.

xe lu

Thông thường xe lu được định nghĩa và hiểu đơn giản là máy dùng để đầm chặt nền đất công trình.
Công dụng của xe lu:nhằm làm cho đất được nén chặt lại, khối lượng riêng và độ bền chặt của đất tăng lên để đủ sức chịu tác dụng của tải trọng , chống lún, nứt nẻ chống thấm …

Phận loại xe lu:

Xe lu căn bản có hai loại: xe lu rung và xe lu tĩnh
1. Xe lu rung
Máy đầm bằng lực động, tải trọng thường từ 12-16 tấn, khi rung tải trọng có thể lên tới 25 -30 tấn. Cấu tạo thường gồm 2 bánh lốp, một bánh sắt.
2. Máy lu tĩnh:
Có 3 loại: lu bánh thép, lu bánh lốp, lu chân cừu

Lu bánh thép:
- Cấu tạo:
- Bộ phận công tác:
Là một quả lăn thép cứng có thể gia tải được bề mặt trơn nhẵn.
- Nguyên lý hoạt động:
Thông qua quá trình di chuyển bánh xe tiếp xúc với mặt đường và truyền tải trọng xuống nền đất, trong quá trình đầm lực đầm không đổi.
- Ưu điểm:
+ Có thể đầm bề mặt nền nhẵn mịn.
+ Có thể đầm được mặt đường đá sỏi, mặt đường nhựa.
+ Giá thành thấp.
+ Cấu tạo đơn giản.
- Nhược điểm:
+ Sau khi đầm bằng lu bánh thép, lớp đất tiếp theo khó dính kết với lớp đất
+ Năng suất thấp.
+ Độ bám của máy trên nền thấp.
- Phạm vi sử dụng:
Máy chỉ thích hợp khi đầm bề mặt đất có lẫn đá, trong thi công đường oto đầm những lớp đất hoàn thiện kể cả lớp áo đường bê tông nhựa.


Khái niệm và cách bảo quản bugi

Khái niệm và cách bảo quản  bugi

Bugi là chi tiết cuối cùng của hệ thống đánh lửa. Tuy nhiên, bugi có nhiệm vụ rất quan trọng là phải phát sinh được tia lửa điện giữa hai điện cực ( cực trung tâm và cực bên nối mát), để đốt cháy hỗn hợp không khí – xăng từ chế hòa khí đã được nạp vào buồng đốt.
Cấu tạo của bugi :
a. Điện cực của bugi: Đây là nơi tập trung tạo ra tia lửa điện, vì vậy các nhà sản xuất bugi sử dụng các loại vật liệu thích hợp để tạo ra tia lửa điện ổn định trong mọi điều kiện làm việc khắc nghiệt (nhiệt độ và áp suất luôn thay đổi), cũng như có khả năng chống ăn mòn cao. Thông thường vật liệu dùng để chế tạo lõi điện cực là Đồng (Cu) còn đầu cực nơi phóng ra tia lửa điện là các hợp kim Niken với Crôm, Mangan, Silicon,….
bu gi

b. Vỏ cách điện: Đảm bảo không rò rỉ điện cao áp, có độ bền cơ học cao, chịu được nhiệt độ cao, có tính truyền nhiệt tốt. Vật liệu làm vỏ cách điện thường là gốm oxít nhôm (Al2O3).
Trên thân vỏ cách điện, về phía đầu tiếp xúc với chụp bugi, các nhà sản xuất luôn tạo ra một số nếp nhăn sóng ( thường có khoảng 4 hoặc 5 nếp nhăn sóng), mục đích của việc tạo ra nếp nhăn sóng này để ngăn ngừa hiện tượng phóng điện cao áp từ đầu tiếp xúc của bugi xuống phần kim loại (Đánh lửa ra mát động cơ), làm giảm hiệu qủa đánh lửa trong buồng đốt của động cơ.
c. Dung tích khỏang trống : Đây là khoảng trống giữa haiđiện cực, nếu càng lớn và
sâu thì khả năng tản nhiệt của bugi càng kém; ngược lại nếu càng nhỏ và cạn thì khả năng tản nhiệt của bugi càng nhanh. Qua đó, các nhà sản xuất bugi chia bugi ra làm hai loại dựa trên khả năng tản nhiệt của chúng( hoặc theo dung tích khoảng trống) : Bugi loại nóng và bugi loại nguội.
4. Kiểm tra bugi :
Cần kiểm tra và vệ sinh bugi định kỳ, điều này giúp bạn nhận biết được tình trạng hoạt động của động cơ và kịp thời hiệu chỉnh để luôn đạt hiệu qủa làm việc cao nhất.Khi vệ sinh cần làm sạch lớp than cacbon bám ở các điện cực và điều chỉnh lại khe hở đánh lửa giữa hai điện cực. Thông thường, các thợ máy nhìn vào màu sắc ở các điện cực để nhận biết tình trạng của động cơ. Có 3 màu sắc cơ bản :
- Bugi có màu nâu nhạt hoặc màu như đỏ gạch : Nhiên liệu hòa trộn tỉ lệ thích hợp và hệ thống đánh lửa hoạt động tốt, bugi sử dụng đúng dải nhiệt độ.
- Bugi có màu trắng và khô : Nhiên liệu hòa trộn với tỉ lệ dư gió thiếu xăng, có thể bugi sử dụng loại qúa nóng cho loại động cơ đó.
- Bugi có màu đen và muội than bám nhiều: Nhiên liệu hòa trộn với tỉ lệ thiếu gió dư xăng, có thể bugi sử dụng loại qúa nguội cho loại động cơ đó.
Trong mỗi trường hợp, trước hết cần kiểm tra điều chỉnh lại chế độ hòa trộn nhiên liệu ở chế hòa khí cho đúng tỉ lệ, kiểm tra lọc gió hoặc độ kín của cổ hút(co xăng), vệ sinh lại các điện cực bugi, v.v…; nếu tình trạng động cơ vẫn không được cải thiện nên thay một bugi khác có dải nhiệt độ thích hợp hơn phù hợp với điều kiện của người sử dụng (ví dụ nếu bugi thường xuyên bị dơ đen nên thay bằng bugi có trị số nhỏ hơn).Ngoài ra khe hở giữa 2 cực đánh lửa của bugi nên để trong khoảng : 0,6 ~ 0,7 mm


Hướng dẫn sử dụng que hàn hồ quang tay

Hướng dẫn sử dụng que hàn hồ quang tay

Cấu tạo que hàn hồ quang tay
Que hàn là loại điện cực để máy hàn hồ quang tay ( hàn thép, hàn gang, hàn nhôm…). Trong quá trình hàn que hàn làm nhiệm vụ gây hồ quang và bổ sung kim loại cho mối hàn. Cấu tạo que hàn hồ quang tay có vỏ bọc gồm 2 phần chính: lõi que hàn và vỏ bọc thuốc.
Cấu tạo các loại que hàn hiện nay
Lõi que hàn
que hàn

Phần lõi que là những đoạn dây kim loại có các kích thước cơ bản sau đây:
– Chiều dài que hàn L = 250-500 mm
– Đường kính lõi que d = 2,0- 6,0 mm và cỡ của que hàn được gọi theo đường kính của lõi que
– Một đầu để trần không bọc thuốc dùng để kẹp kìm hàn dài từ 15-30 mm, đầu còn lại được vê sạch thuốc bọc với góc vát α = 35o-45o và độ hở 1-1,5 mm để dễ gây hồ quang hàn
– Chiều dày lớp thuốc bọc khoảng = 1-3 mm
Vỏ bọc thuốc
Thuốc bọc là hỗn hợp các hóa chất, khoáng chất, fero hợp kim và chất dính kết.
Phân loại que hàn:
Hiện nay có nhiều hệ thống tiêu chuẩn phân loại que hàn như: ISO (tiêu chuẩn quốc tế), AWS (Mỹ), BS (Anh), DIN (Đức), GOST (Nga),…và việc phân loại có thể dựa vào đặc tính lõi que, thuốc bọc, loại dòng điện dùng để hàn, tư thế không gian hàn, thành phần hóa học và cơ tính kim loại đắp, …
Que hàn nhóm vỏ thuốc bọc hệ axit (ký hiệu A):
Thuốc bọc loại này được chế tạo các loại oxit (Fe2O3, MnO, MnO2, SiO2,…) feromangan,…

Que hàn nhóm vỏ thuốc bọc hệ bazơ (ký hiệu B):
Thuốc bọc loại này được làm từ các chất có gốc cacbonat (đá cẩm thạch CaCO3, đolomit CaCO3.MgCO3), huỳnh thạch (fenspat), các fero hợp kim (Fe-Si, Fe-Mn, Fe-Ti,…).
Que hàn nhóm vỏ thuốc bọc hệ rutil (ký hiệu R)
Trong thuốc bọc loại này chất chủ yếu là dioxit titan (rutil, ilmenhit), ngoài ra còn trường thạch (Na2O. Al2O3. 6SiO2), MgCO3 và CaCO3 hoặc bột gỗ, fero hợp kim,…
Que hàn nhóm vỏ thuốc bọc hệ hữu cơ (ký hiệu là O hoặc C):

Trong thuốc bọc loại này chủ yếu là: tinh bột, xenlulo. Khi hàn sinh ra lượng lớn khí bảo vệ CO2. Để khắc phục hiện tượng dòn hyđrô và rỗ khí, thường bổ sung thêm TiO2, FeO, MnO2, CaF2 và một số ferô hợp kim (Fe-Si, Fe-Mn,…).

Các kì trong một động cơ piston đẩy 4 kì

Các kì trong một động cơ piston đẩy 4 kì

Có nhiều loại động cơ đốt trong khác nhau, một phần sử dụng các chu kì tuần hoàn khác nhau. Tuy vậy tất cả các động cơ đốt trong đều lặp lại trong một chu trình tuần hoàn chu kì làm việc bao gồm 4 bước: nạp, nén, nổ (đốt) và xả. Xả và nạp là hai bước dùng để thay khí thải bằng nhiên liệu mới (ví dụ hoà khí ở động cơ xăng, không khí ở động cơ diesel,...). Nén và nổ dùng để biến đổi năng lượng hoá học (đốt hỗn hợp không khí và nhiên liệu) thông qua nhiệt năng (nhiệt độ) và thế năng (áp suất) thành cơ năng (động năng trong chuyển động quay).
Trong kì thứ nhất (nạp – van nạp mở, van xả đóng), hỗn hợp không khí và nhiên liệu được "nạp" vào cylinder trong lúc piston chuyển động từ điểm chết trên (ĐCT) xuống điểm chết dưới (ĐCD).
Trong kì thứ hai (nén – hai van đều đóng), piston nén hỗn hợp khí và nhiên liệu trong cylinder khi chuyển động từ ĐCD lên ĐCT. Ở cuối kì thứ hai (piston ở tại ĐCT), hỗn hợp khí và nhiên liệu được đốt trong động cơ xăng bằng bộ phận đánh lửa gọi là bougie (bugi) hoặc tự bốc cháy trong động cơ diesel.
động cơ 4 kì

Trong kì thứ ba (sinh công – các van vẫn tiếp tục được đóng), hỗn hợp khí và nhiên liệu được đốt cháy. Vì nhiệt độ tăng dẫn đến áp suất của hỗn hợp khí tăng và làm cho piston chuyển động từ ĐCT xuống ĐCD. Chuyển động tịnh tiến của piston được chuyển bằng thanh truyền (còn gọi là tay biên hay tay dên) đến trục khuỷu (còn gọi là cốt máy) và được biến đổi thành chuyển động quay.
Trong thì thứ tư (xả - van nạp đóng, van xả mở) piston chuyển động từ ĐCD lên ĐCT đẩy khí từ trong cylinder qua ống xả (thường gọi là ống bô) thải ra môi trường.

Nguyên tắc hoạt động của động cơ Otto
Chuyển động của piston ở kì thứ nhất, hai và bốn là nhờ vào năng lượng được tích trữ bởi bánh đà gắn ở trục khuỷu trong kì thứ ba (kì sinh công). Một động cơ bốn kì vì thế có góc đánh lửa là 720 độ tính theo góc quay của trục khuỷu tức là khi trục khuỷu quay 2 vòng thì mới có một lần đánh lửa. Có thêm nhiều cylinder thì góc đánh lửa sẽ nhỏ đi, năng lượng đốt được đưa vào nhiều hơn trong hai vòng quay của trục khuỷu sẽ làm cho động cơ chạy êm hơn.

Do trong lúc khởi động chưa có đà nên trục khuỷu phải được quay từ bên ngoài bằng một thiết bị khởi động như dây (ở máy cưa, ca nô,...), cần khởi động (ở xe máy,...), tay quay khởi động (ở ô tô cổ, xe cải tiến, xe kéo nông nghiệp,...) hay một động cơ điện nhỏ (ở xe máy, ô tô,... hiện đại).


Việc thay thế khí thải bằng hỗn hợp khí mới được điều khiển bằng trục cam. Trục này được gắn với trục khuỷu, quay nhờ cơ cấu giảm tốc 1:2, đóng và mở các van trên đầu cylinder của động cơ. Thời gian trục khuỷu đóng và mở các van được điều chỉnh sao cho van nạp và van xả được mở cùng một lúc trong một thời gian ngắn khi chuyển từ kì xả sang kì nạp. Khí thải thoát ra với vận tốc cao sẽ hút khí mới vào buồng đốt nhằm nạp khí mới vào cylinder tốt hơn và tăng áp suất đốt.